Sunday, May 20th

Hiện có 172 khách Trực tuyến
Bạn đang xem: Viễn xứ Viễn xứ Làng Hạ của tôi...

Làng Hạ của tôi...

Email In
Xem kết quả: / 2
Bình thườngTuyệt vời 

Tôi sinh ra trên quê lúa Thái Bình. Cái làng Hạ thật nhỏ bé . Nó chỉ tồn tại như một dấu chấm nhỏ trên bản đồ Thái Bình. Và hình như làng Hạ của tôi cũng không mấy ai nhắc đến. Bởi vì làng không có những danh nhân văn hóa, cũng chẳng có những anh hùng như những miền quê khác. Quả thực tôi cũng không biết vì sao có Cái tên “ Làng Hạ”. Và cũng chẳng biết ai đã đặt tên làng Hạ.

Tôi chỉ biết rằng làng Hạ của tôi dòng họ Trần chiếm đại đa số. Làng Hạ của tôi nằm sát con kênh nhỏ. Trước là cánh đồng , sau là thôn Phất Lộc. Người thôn quê tôi sống tập trung trải dài theo con đường làng. Đường vào ngõ uốn quanh . bên cạnh ngõ đều có ao làng. Nhà ở làng tôi có nét chung giống nhau là trước nhà ai cũng có mảnh vườn nhỏ trồng chè, rải rác trồng những cây mít, cây xoan hoặc chuối , na, nhãn, ổi …

Thời trước, làng tôi còn thưa thớt, chỉ độ vài chục nóc nhà mái rạ. Lác đác mới có một, hai nhà mái ngói, cột lim. Người xưa thường nói đặc trưng làng xã là cổng làng, cây đa bến nước. Nhưng Làng Hạ của tôi lại không có. Tôi chỉ biết làng tôi có Đình làng Hạ to và đẹp lắm.

Đình kiến trúc theo kiểu cổ. Đình có mái ngói uốn bốn góc. Trước đình có hai cây gạo. Sân trước và sân sau đình đều lát gạch . Trong đình có những cột gỗ lim mà người lớn vòng tay ôm cũng không hết. Xung quanh phía ngoài đình trồng những cây cổ thụ sum suê. Trong đình có nhiều ban thờ Tổ tiên họ Trần, được đúc bằng tượng đồng đen . Ngày mùng một hay ngày rằm âm lịch, người dân làng đến khấn vái khói nhang nghi ngút. Không khí thật linh thiêng.

Tôi còn nhớ như in những năm tháng tuổi thơ, tôi thường theo bạn bè làng đi ra gò đất đằng trước cửa, đào đất sét về nặn những đồ chơi tuổi nhỏ. Những con trâu, con lợn, chú gà, con cá.. đem phơi trên sân. Những kỳ nghỉ hè thả diều, đánh khăng, đánh đáo, thả diều.

Thời còn thơ ấu, tôi cũng theo mẹ đi chăn trâu cắt cỏ dười đồng Bầu, đồng Bội.. Ngày đó, khi lớn lên cũng là lúc tôi biết làng tôi đã đi vào hợp tác xã từ lâu. Cả nước có chiến tranh chống Đế Quốc Mỹ xâm lược. Tất cả đàn ông đều ra trận. Người trẻ tuổi, đủ sức khoẻ thì vào bộ đội. Người ba, bốn mươi thì đi dân công hoả tuyến. Hoặc những cô gái đến tuổi hai mươi cũng tình nguyện vào thanh niên xung phong hoặc làm cán bộ. Trên đồng ruộng chỉ đàn bà, con nhỏ. Những người đàn bà vừa phải làm việc đồng áng, vừa làm dân quân lại phải tranh thủ làm ban đêm hoặc sáng sớm để tránh máy bay.

Nhưng người làng Hạ của tôi giàu lòng yêu nước. Khi có giặc là dân quê tôi ra trận. Những chàng trai dẫu chưa đến tuổi vẫn viết thư viết bằng máu tình nguyện xông pha nơi chiến trường Miền Nam theo cuộc trường chinh “ “Mở dọc trường sơn đi cứu nước/ mà lòng phới phới dậy tương lai” ( Tố Hữu)

Hợp tác xã quê tôi làm ăn tập thể đã là một giấc mơ lớn và mấy năm đầu đẹp đẽ xiết bao. Có thể nói làng lúc đó mới bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Ai cũng làm chủ đồng ruộng. Những năm tháng với cuộc sống chung ban đầu ấy thật đẹp như một giấc mơ kỳ diệu. Loa đài phát thanh, hội họp, tập hát chèo…Ruộng nương cấy giăng dây thẳng hàng. Đồng hợp tác vui lắm. Tiếng kẻng giục giã, tiếng trẻ bi bô học bài sao mà hạnh phúc! Trường học, trạm y tế, nhà ngói mọc lên. Người làng tôi thực hiện tốt khẩu hiệu của Đảng và Chính phủ : « Lúa không thiếu một cân, quân không thiếu một người ».

Làng tôi đã đóng góp sức người sức của cho hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại. Dân làng tôi xây dựng hợp tác xã vui như hội. Tôi còn thuộc những câu thơ của Ông Tố Hữu mà đến bây giờ còn nhớ:

“ Dân có ruộng dập dìu hợp tác

Lúa mượt đồng ấm áp làng quê

Chiêm mùa cờ đỏ ven đê

Sớm hôm tiếng trống đi về trong thôn”.

 

Nhưng hạnh phúc không bao lâu. Chỉ được khoảng chục năm. Rồi Hợp tác xã đã bộc lộ những rào cản càng khó khăn. Nguyên nhân vì chiến tranh. Máy bay giặc Mỹ ngày đêm oanh tạc. Thỉnh thoảng, trên ruông lúa lại có những trận bom Mỹ. Những thửa ruộng tốt tươi trở thành những hố bom sâu hoắm.

Vì một nguyên nhân nữa là Hợp tác xã “ Của chung không ai khóc”. Rồi một số cán bộ lấy của chung làm của riêng. Chẳng thế mà tôi còn nhớ câu mà người thôn tôi bấy giờ vẫn hát nghêu ngao ngoài đường: “ Mỗi người làm việc bằng hai / để cho chủ nhiệm mua đài mua xe”. Bởi vậy, thu nhập mỗi sào ruộng chỉ vài chục cân thóc.

Có cán bộ do thiếu hiểu biết lại tư duy ấu trĩ, không bảo tồn di sản văn hóa làng xã nên đã ra những lệnh mà cho đến bây giờ tôi không hiểu nổi. Đó là phá bỏ đình làng dồn chùa chiền theo kiểu “ Hợp tác”. Tức là dồn các chùa lại một chùa. Tình trạng ăn cắp liên tục xảy ra. Người dân đi làm nhưng ăn cắp lúa của hợp tác xã, giấu giếm. Ở trại chăn nuôi, tình trạng ăn cắp cũng không kém. Có đêm trại mất cả chục con lợn. Việc bố trí cán bộ theo kiểu “ Một người làm quan cả họ được nhờ”,“ Con ông cháu cha” .. Cái đói vẫn đeo bám người thôn tôi nhất là tháng ba tháng tám, lúc giáp hạt.

Rồi sau 30 tháng 4 năm 1975. Chiến tranh cũng qua đi. Có Người lính chiến trường trở về lành lặn. Có người bị thương tật suốt đời, có người bị mang trên mình chất độc da cam. Số người hy sinh nhiều hơn người trở về. Có đến một nửa nhà dân thôn tôi thuộc gia đình thương binh liệt sĩ. Hợp tác xã cũng èo ọt như con thuyền chòng chành không đủ sức chở làng vượt qua bão táp. Rồi khoán sản. Đất giao khoán, đời sống quê tôi lại nâng lên.

Nhưng đất chật, người đông. Dân số tăng mà ruộng lại ít. Dân làng làng quê như những cánh bèo giữa dòng đời trôi nổi. Thời gian, thế sự đổi thay, làng Hạ của tôi cũng trong vòng chuyển xoay . Có người xuôi ngược, ngược xuôi. Có người vào Tây Nguyên, Kiên Giang, Sông bé. Lại có người lên tận Tây Bắc làm ăn rồi lập gia đình. Có người ra đi trở thành giàu có. Đời sống dân làng tôi bây giờ thay đổi. Nhất là những gia đình có người xuất khẩu lao động hay kinh doanh thành đạt nơi phố thị gửi tiền về xây nhà cửa khang trang lộng lẫy, xây những tường cao, những biệt thự . Nhưng cũng có người đi làm phu hồ , đi bế con, đi ở cho bà con ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng dành tiền để xây nhà, sắm sửa. Bởi vì nếu ở nhà chỉ có một hai sào ruộng sống làm sao? Nhưng cũng có người cũng chẳng ăn thua gì.

Làng Hạ của tôi giờ khác trước nhiều lắm. Người thôn quê chỉ thật sự ra tay xây dựng cuộc sống trong thời kỳ đổi mới và đã có những thay đổi hơn hẳn mấy trăm năm trước. Tiếng xe máy chạy ồn cả làng, tiếng ca nhạc xập xình vang lên, …đã át đi tiếng gà gáy sáng. Điều đó nói lên đời sống vật chất khá lên nhanh chóng. Nhưng buồn thay! Làng Hạ đua nhau đốt gạch làm nhà. Ngày, đêm, tiếng vợ chồng con cái, tiếng đập gạch thình thịch. Rồi lò gạch dựng tại sân., khói bụi mù mịt làm chuối, chè chết. người bị bệnh nhiều hơn. Tiếng chửi nhau, hăm dọa rồi có cả sự giết người chỉ vì tranh giành tý đất dòng họ.Tình làng nghĩ xóm bây giờ không còn như trước. Nhà nhà rào dậu ngăn sân

. Làng Hạ nhiều người trong cảnh cô đơn. Bởi con cái bỏ làng đi hết cả, chỉ còn ông già bà già. Dẫu có hội này hội nọ động viên chăm sóc nhưng chẳng thấm vào đâu. Phân tán, làm ăn riêng rẽ thì nhiều gia đình thiếu cách sản xuất, già yếu , cô đơn rơi vào cảnh khốn khó trước; người có sức lao động kiếm ăn no đủ riêng, cũng không thể vực nền kinh tế chung lên được…Sự phân biệt giàu nghèo ngày càng gia tăng.

Tôi xa quê , nay đã 30 năm, khi về thăm lại, tôi tự hỏi: Không biết làng Hạ của tôi bao nhiêu năm ra đời, bao nhiêu năm lịch sử, không có ngày thành lập mà tại sao vẫn cứ đứng vững trong phong ba bão táp. Tôi tự hào về làng tôi. Nhưng có lúc, tôi như người cứ cảm thấy trống trải. Tôi như người lạ về làng. Tôi thèm được đi trên con đường rơm rạ thơm mùi lúa mới, thèm được ngồi bên bà con làng xóm cùng uống bát nước chè xanh dưới trăng nghe kể chuyện quây quần về làng xóm, muốn được nhảy thùm xuống ao làng tắm mát buổi trưa hè.

Tôi thèm nghe tiếng hát chèo năm xưa, nghe tiếng võng kẽo kẹt ngày nào mà xem chừng thật khó. Tôi đi thắp hương phần mộ tổ tiên nhưng ngay cả những ngôi mộ cũng phân biệt giàu nghèo. Có phải tôi đã lạc hậu rồi chăng? Có phải tôi thành kẻ xa lạ của nơi tôi đã sinh ra và lớn lên?

Trần Thủy

Trường THPT Long Thạnh, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh kiên Giang

Viết Bình luận


Mã bảo vệ
Mã bảo vệ khác