Đất nước thanh bình, tôi khoác bồng từ Tứ Giác Long Xuyên băng qua Đồng Tháp Mười về quê gặp thầy giáo Quý. Tôi và Quý thân nhau từ ngày chăn trâu, thả diều và hun chuột trên cánh đồng của quê lúa Thái Bình.
Học hết phổ thông, Quý vào Sư phạm, tôi khoác súng đi chinh chiến ở Phương Nam. Trong những đêm gác chân lên nhau tâm tình, Quý hỏi:
- Văn này, Đồng Tháp Mười thì mình cũng đã lơ mơ qua cuốn phim “ Cánh Đồng Hoang” còn Tứ Giác Long Xuyên là chỗ nào nhỉ?.
Tôi chép miệng bảo.
- Thì cũng đều là cánh đồng hoang hoá, là biển về mùa mưa, rừng lau về mùa khô. Một năm nước ngập đầu người tới 5 - 6 tháng. Thi thoảng có dân đánh cá đến đây làm ăn mà không may có người quá cố thì phải treo xác chết lên chờ khi nước rút mới có chỗ chôn. Diện tích của Đồng Tháp Mười thuộc hai tỉnh Long An và Đồng Tháp là chủ yếu. Còn Tứ Giác Long Xuyên là vùng ngập lụt ở phía tây nam Đồng Tháp Mười. Vùng đất này na ná như một tứ giác mà các đỉnh của nó là Rạch Giá, Hà Tiên, Châu Đốc và Long Xuyên nên dân Nam Bộ kêu là Tứ Giác Long Xuyên. Vùng này có nơi nước ngập đẫy một con sào về mùa mưa, nhưng mùa khô dân phải đi mua nước từ các đảo ở Biển Tây. Chuyện cứ như đùa!
- Vậy diện tích của hai vùng ngập lụt ấy lớn chừng bao?
- Trên 18.000km2, bằng 47% diện tích đồng bằng sông Cửu Long. Nếu quy hai biển nước ấy về hình vuông thì mỗi cạnh của nó dài tới … 135 km, dài hơn đường ô tô từ Thái Bình ta đi Hà Nội. Cậu thử tưởng tượng xem nó mênh mông tới chừng nào!!!
- Đành vậy, nhưng chẳng lẽ mình chịu bó tay ?.
- Chẳng biết rồi đây thế nào, chứ người Nhật, người Pháp, người Mỹ và cả người Hà Lan đã định bỏ vốn ra cải tạo cái biển nước trên cạn ấy mà đều đã lắc đầu.
- Tại sao lại lắc đầu?
- Nhiều lý do lắm, nhưng cái chính là nó quá mênh mông nên không thể có “một vốn bốn lời” được.
- Vậy dân trí ở đây sao nhỉ?
- Hầu hết trẻ em là thất học. Đời người ở đây cũng như mùa lũ, mùa khô. Họ gắn cuộc đời mình vào cái cần câu, chài lưới về mùa mưa, ở trần bắt rắn, cua đinh, trứng chim về mùa khô. Họ không cần cái chữ mà cũng chả có ai mang chữ cho họ. Cậu là giáo viên, cậu nghĩ gì về điều đó?
Quý vẫn hít hà điếu thuốc lá để tắt ngấm từ lâu rồi khe khẽ nói như nói với trái tim mình.
- Mấy đêm nay mình cứ trằn trọc với ý nghĩ, giá dăm trăm năm trước đây cha ông ta không “mang gươm đi mở cõi” thì làm gì ta có cái “biển trên cạn ấy”. Làm trai như cậu mới đúng là trai, cậu đã mang súng đi giữ cõi, thế mới là: “Làm trai sống ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông”. Còn tớ, tớ chả làm được cái gì cho có ý nghĩa nên lần này, nhân chuyện Nhà nước mở cuộc vận động đi khai trí cho dân vùng sâu, vùng xa, mình định mang cái chữ vào vùng ngập lụt ấy dạy cho các cháu cậu bảo có nên không?
- Tất nhiên là nên rồi, nhưng chúng có chịu học không lại là chuyện khác. Với lại, văn minh như người Nhật, người Hà Lan mà họ đã lắc đầu thì tớ dám chắc ta cũng không thể “nghiêng đồng đổ nước ra Biển Tây” được.
Quý ném cho tôi cái cười, nửa chế diễu tôi, nửa tự tin vào quyết định của Quý rồi hắn ta bảo:
- Để rồi xem.
x x
x
Ba mươi hai năm sau, năm 2008 Quý về thăm quê và khẩn khoản mời tôi vào nơi quê mới. Thật không thể tin vào mắt mình được nữa, mặc dù tôi rất tỉnh táo trong những ngày cùng Quý và một học sinh của cậu ta ngày xưa mà bây giờ là một Nhà nông học, đi dọc ngang Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Không phải đi trong mùa khô mà đi ngay trong những ngày lũ đang về. Trước đây 32 năm, nơi đây là những cánh đồng hoang bạt ngàn, chỉ có tiếng sếu, tiếng vạc hoà vào sóng nước thì bây giờ đã có làng mạc, thị tứ, thị xã và hầu hết đâu đâu cũng đều có điện sáng lung linh.
Cũng lại một chiều mùa thu của 32 năm trước, tôi và Quý gác chân lên nhau, nhưng không phải trong chiếc chõng tre ở lều vó của ông già Quý năm nào mà nằm trên một nhà có nền trên cọc, mơ màng nhìn ra con kênh thoát lũ của huyện Hòn Đất trong Tứ Giác Long Xuyên. Tôi hỏi Quý về những năm “mang chữ cho vùng lũ” và Quý kể:
Ngày mình vô đây, hầu hết lũ trẻ ở vùng này đều không biết chữ. Bọn giáo viên chúng mình đều phải xa gia đình, cùng nhau xuống các ấp của người Kinh, các sóc của người Khơ - me rồi vào từng nhà dạy học cho các cháu. Lúc đầu, nói cậu đừng cười, các cháu sợ chúng mình như sợ tà, thấy bóng chúng mình là chúng biến mất. Vì ngồi học đâu có thanh thản như ở trần đi bắt cua đinh, bắt rùa, bắt rắn. Với lại, không đi cá, đi tôm thì lấy gì mà ăn. Cái cháu lái ô tô cho chúng ta trong những ngày qua, ngày ấy nói với mình:
- Thầy ơi, thực tình em không thể theo học được, vì em không có thời gian ngó nghiêng tới sách vở, tới nét chữ của thầy. Em phải kiếm ăn nuôi mẹ, nuôi các em em thầy ạ!
Mình âu yếm nhìn cậu học trò ấy rồi hỏi:
- Vậy em đã được nghe chuyện Lý Mật và Chu Mãi Thần khi xưa học như thế nào để đỗ trạng nguyên chưa?
- Dạ! các vị ấy học ra sao ạ?
- Lý Mật và Chu Mãi Thần là hai vị trạng nguyên của nước Trung Hoa thời trung đại. Gia đình hai vị ấy cũng nghèo như gia đình em bây giờ, Lý Mật phải đi ở đợ, chăn trâu cho người, Chu Mãi Thần ngày ngày phải lên rừng hái củi về bán lấy tiền nuôi mẹ, nuôi thân. Nhưng cái chí học hành của họ thì mênh mông lắm. Đi chăn trâu, Lý Mật cài quyển sử Xuân Thu lên sừng trâu để học; gánh củi từ rừng về, Chu Mãi Thần đặt lên mỗi bó củi một pho sách, trở vai bên phải học sách bên phải, trở vai bên trái học sách bên trái.
Mới nói đến đây mình thấy mắt cậu ta sáng lên lạ lùng, hình như có sức mạnh vô hình nào đó đang chuyển động trong dòng máu của cậu ấy mình nói tiếp:
- Thế rồi cả hai vị này đều đỗ trạng nguyên. Để truyền lại cái chí học hành của họ, một Nhà thơ nào đó đã có 4 câu: “Lý Mật chẳng quản công phu/ Chăn trâu theo sách Xuân Thu trên sừng./ Mãi Thần gánh củi trên rừng /Mỗi bên bó củi đặt từng pho Nho!”.
Chuyện học của Lý Mật và Chu Mãi Thần như những làn gió xuân toả đi khắp vùng. Sau 20 năm, hàng trăm học sinh của bọn mình đã trở thành các Nhà ngoại giao, Nhà quản lý, Nhà khoa học. Tự chúng đã biến vùng hoang hoá này thành những cánh đồng phì nhiêu, những làng mạc trù phú, những thị tứ, thị trấn, thị xã lộng lẫy như cậu đã thấy. Nói cậu bỏ ngoài tai, ngày ấy tại lều vó của ông già mình, mình đã hỏi cậu . “Vậy triệu triệu năm nay phù sa của sông Mê Kông sao không bôì đắp cho chúng ạ? “ Và cậu đã tịt!
- Cái cậu này! Thế tại sao?
- Dạ. Nó cũng hơi dài dòng một chút: Từ trước tới nay, chúng ta cứ ngỡ đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất “trẻ mãi không già”, nhưng thực tế, đó là vùng châu thổ mà đất phèn chiếm tới 47%, đất nhiễm mặn 17%, đất phù sa cũ 12%, còn đất phù sa ngọt chỉ có 24%. Như vậy “đất chết” chiếm quá nửa. Tại sao vậy? Cái chính là châu thổ của chúng ta chỉ hấng lũ chứ không hấng phù sa, mặc dù hàng năm sông Mê Kông chuyên chở đi một khối lượng phù sa khổng lồ (gần 100 triệu tấn). Vậy khối lượng phù sa ấy “tàng hình” đi đâu?. Vì hàng năm, khi lũ về là vào sông Tiền và sông Hậu, đưa phù sa chảy hết ra Biển Đông, sau đó nước duềnh lên ở đầu nguồn, bao nhiêu phù sa lắng đọng hết ở Căm - phu - chia, sau đó mới chảy vào Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên toàn là nước “trong như mắt mèo”, hại nhiều hơn lợi. Vậy muốn biến “vùng đất chết” ở Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên thành vùng đất “trẻ mãi không già” ta chỉ việc đắp đập dọc biên giới Căm - phu - chia không cho “nước chết” tràn sang, đồng thời làm nhiều kênh cho nước từ sông Tiền, sông Hậu chảy vào nội đồng để “ăn hớt” phù sa của Biển Đông! Tuy đơn giản như vậy; như cậu nói với mình cách nay 32 năm là người Mỹ, người Nhật, người Hà Lan đã tới đây định đầu tư để “uốn” dòng chảy nhưng đều đã lắc đầu! Còn với chúng ta, Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên là kết quả của bao đời cha ông ta “mang gươm đi mở cõi” và anh em ta “mang súng đeo bồng” đi giữ nước, khó mấy ta cũng phải làm.
- Ừ! vậy lớp học sinh của cậu đã làm những gì?
- Trước đây, lũ vào Đồng Tháp Mười theo hai hướng, từ vùng ngập lụt Căm - phu - chia ( không có phù sa) chiếm tới 85 - 90%, từ sông Tiền ( giàu phù sa) chỉ có từ 10 đến 15 %. Để ngọt hoá Đồng Tháp Mười, chúng ta đã đắp đập vùng thượng nguồn, chặn đứng dòng chảy không có phù sa ấy lại, đồng thời đào kênh cho dòng chảy ấy thoát ra sông Vàm Cỏ . Mặt khác, đào các kênh, đập tràn nối Đồng Tháp Mười với sông Tiền để đón lũ giàu phù sa vào đây. Sau khi phù sa đã lắng đọng trong Đồng Tháp Mười thì cho nó thoát ra, chủ yếu qua hạ lưu sông Tiền ở các cống trên Quốc lộ 30 (tả ngạn sông Tiền), còn lại 1/3 cho thoát ra sông Vàm Cỏ. Ngoài Quốc lộ 30 nói trên, ta còn làm Quốc lộ 62 xuyên Đồng Tháp, dài gần 100km, từ thị xã Tân An của tỉnh Long An đến biên giới Căm - phu - chia. Cắt ngang các Quốc lộ này là các đường liên tỉnh, liên huyện. Trên các đường xương cá ấy là các thị tứ, thị xã và “vệ tinh” của các thị tứ, thị xã là các “ốc đảo xanh” có trường học, trạm xá, chợ búa như bao vùng quê khác. Có khác, chỉ khác là họ sống “hoà thuận với lũ” mà thôi. Lũ ở đây đến rất nhanh, vừa trông thấy nó ở trước mặt, chớp mắt một cái lũ đã qua chân mình. Nếu lũ ở Tây Bắc Bắc Bộ và miền Trung đến rất nhanh và rút cũng rất nhanh thì ở đây lũ dềnh dàng như một chàng lãng tử, thường lưu lại 5 -6 tháng trời (từ tháng 8 dương lịch đến giáp Tết Nguyên Đán) nên đồng bào ở đây mới hình thành cách “đối xử” với lũ là “chung sống, chia ngọt sẻ bùi cùng lũ!”.
Còn tại vùng Tứ Giác Long Xuyên, lũ vào cũng theo hai hướng, từ vùng ngập lụt Căm - phu - chia với nước “trong như mắt mèo” chiếm đến 75 đến 80% , từ sông Hậu vào với nước “giàu phù sa” chỉ có từ 20 - 25%. Việc thoát lũ ở đây dễ hơn nhiều so với Đồng Tháp Mười , vì cao độ ở nơi lũ vào là từ + 3 đến + 5, trong khi đó đỉnh triều ở Biển Tây chỉ có + 1. Mặt khác, đường thoát lũ lại ngắn, chỉ từ 30 đến 60 km. Để ngọt hoá và thoát lũ cho Tứ Giác Long Xuyên chúng ta cũng đã đắp đập trên thượng nguồn, buộc lũ còn giàu phù sa phải chảy qua các cống tràn, tràn vào Tứ Giác Long Xuyên , sau khi phù sa đã ngưng đọng lại, ta cho nó thoát ra Biển Tây qua kênh Rạch Giá - Hà Tiên khoảng 80%. 15 % nước còn “ Giàu phù sa” cho nó thoát ra vùng tây sông Hậu để ngọt hoá vùng này, bồi đắp phù sa cho nó qua các kênh chảy vào U Minh Thượng rồi cũng thoát ra biển Tây. 5 % chảy trở lại sông Hậu ở đoạn hạ lưu. Ngoài những công trình đón lũ, thoát lũ kết hợp với mở đường giao thông, thành lập các ấp, các thị tứ, thị xã, các “ốc đảo xanh” nói trên, chúng ta còn nâng cấp đường 1A ở vùng gần Biển Đông, đắp mới Quốc lộ 80 (Rạch Giá - Hà Tiên), Quốc lộ 91 (dọc bờ hữu ngạn sông Hậu) rồi làm các cầu, các cống trên đó vừa để ngăn mặn, vừa để trữ ngọt cho mùa khô. Các công trình ngăn mặn, trữ ngọt này đã giúp ta khai khẩn hàng vạn héc - ta của Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang thành đồng lúa và hoa màu.
Vậy là, cũng với thời gian bằng thời gian dân tộc ta chiến thắng 2 đế quốc to là Pháp và Mỹ, lớp học sinh của chúng mình đã cùng cả dân tộc mang cái chí của Thần Núi Tản đánh quỵ Thuỷ Thần Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên, biến hai nơi này từ chỗ hầu như không một bóng người, nay đã có trên 4 triệu nông dân đến định cư, chung sống với lũ. Thành tựu này là của cả dân tộc, nhưng trước hết phải là công của các Nhà quản lý, Nhà khoa học đã đem ánh sáng của trí tuệ rọi vào thực tế, tìm ra cách đi ngắn nhất và hiệu quả nhất; đúng như câu “luận thiên hạ” của một triết gia cổ đại.
- Luận thế nào? - Tôi ngỡ ngàng hỏi Quý. Quý không trả lời câu tôi vừa hỏi mà hỏi lại:
- Vậy cậu đã được nghe những lời luận bàn của Trung Hoa cổ đại chưa?
- Có! Có có. Mình đã được nghe “luận anh hùng” giữa Tào Tháo và Lưu Bị Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa
- Không không đó là “luận anh hùng”thì ai ai cũng biết, còn đây là “luận thiên hạ” cơ.
- Vậy người ta luận thế nào?
- Cách nay khoảng 3.000 năm, một triết gia của nước Trung Hoa cổ đại đã nói: “ Tai mắt trong thiên hạ có 3 hạng người: vũ dũng, trí mưu và học thức. Vũ dũng thua trí mưu, trí mưu thua học thức”.
- Vậy sao?
- Thì cậu thử ngẫm mà xem, hầu hết mọi tiến bộ trong xã hội loài người đều do học thức nghĩ ra đầu tiên.Ví như cái cối xay chạy bằng sức gió đã phải “vái” cái mô - tơ chạy bằng điện hàng nghìn lần rồi nhường chỗ cho nó là gì? Có thể nói không ngoa rằng, học thức đã đi tiên phong trong mọi tiên phong của xã hội.
- Trong đó - tôi cướp lời Quý - Trong đó có việc “mang chữ cho vùng lũ” của cậu?
Quý ném cho tôi cái nhìn hể hả. Hai đứa ôm chầm lấy nhau, hai trái tim đập cùng tần số, lan theo dòng nước đỏ sậm phù sa, đang cuồn cuộn chảy vào châu thổ…
Chú thích: (1) Mọi tư liệu trong tác phẩm này đều dựa theo tác phẩm “chung sống với lũ” của NXB Thanh niên năm 2001.
Nguyễn Công Viễn (Thái Thụy)
- 11/12/2011 11:38 - “Chắp cánh ước mơ - vượt lên số phận”
- 30/09/2011 19:31 - Ngày mai, E sẽ ở đâu?
- 02/03/2011 09:49 - Ký ức về bà tôi
- 26/12/2010 17:08 - Cây gạo Quê Tôi...
- 20/12/2010 21:07 - QUÀ TẶNG MÙA ĐÔNG










